Thân Nguyễn Luận
mưa làm ướt sũng tóc mai
Chủ Nhật, 10 tháng 11, 2013
Chủ Nhật, 3 tháng 11, 2013
BÀ TƯNG, NGỌC TRINH VÀO ĐỀ THI: NẰM NGOÀI NHẬN THỨC CỦA HỌC SINH
ĐỀ THI MÔN VĂN
VÀ ĐỔI MỚI TRONG GIÁO DỤC
Trong Đề thi
tốt nghiệp THPT môn Văn năm 2013, Bộ Giáo dục và đào tạo đã đưa ra một đề văn
tương đối mở. Trong đó có câu 2 (3 điểm), thuộc phần chung cho tất cả thí sinh
với nội dung rất nhân văn, gợi mở. Trong
phần văn nghị luận xã hội, câu 2 của đề thi yêu cầu: “Viết một bài văn ngắn (khoảng 400 từ) bày tỏ suy nghĩ của anh/chị về
hành động dũng cảm cứu người của học sinh Nguyễn Văn Nam từ thông tin sau:
Chiều
ngày 30.4.2013, bên bờ sông Lam, đoạn chảy qua xã Trung Sơn, huyện Đô Lương,
tỉnh Nghệ An, Nguyễn Văn Nam
(học sinh lớp 12 T7, Trường THPT Đô Lương 1) nghe tiếng kêu cứu có người đuối
nước dưới sông, em liền chạy đến. Thấy một nhóm học sinh đang chới với dưới
nước, Nam đã nhảy xuống, lần lượt cứu được ba học sinh lớp 9 và một học sinh
lớp 6. Khi đẩy được em thứ 5 vào bờ thì Nam đã kiệt sức và bị dòng nước
cuốn trôi" (Theo Khánh Hoan,Thanh Niên Online, ngày 6.5.2013).
Đề văn
này được dư luận đánh gia là mang tính thời sự, vừa mang tính nhân văn, tính
giáo dục và có ý nghĩa thực tiễn. Chính những đề văn như thế này sẽ đưa tư duy
các em thoát ra khỏi sách vở, được tự do bày tỏ suy nghĩ của mình về các sự
việc thực tế của xã hội. Dành một phần trong đề thi để các em thể hiện suy nghĩ
của mình là cởi mở, càn thiết. Nhưng phải chú ý nội dung, không để nội dung quá
cạn, và liên quan đến các vấn đề tiêu cực của xã hội, dễ gây hiểu nhầm trong
suy nghĩ có phần nhạy cảm ở độ tuổi của các em.
Mới đây, đề thi học sinh giỏi văn lớp 2 năm học 2013-2014
của Sở Giáo dục và Đào tạo Hải Phòng có câu như sau: Người mẫu Ngọc Trinh từng trả lời phỏng vấn rằng: “Yêu không có tiền
thì cạp đất mà ăn à?” Mới đây, cô gái trẻ Lê Thị Huyền Anh (biệt danh “Bà
Tưng”) khi trả lời một trang mạng xã hội, cũng thẳng thắn: “Tôi mơ ước có nhiều
đại gia, nhiều người giàu quan tâm đến mình, cho tôi thật nhiều tiền”.
Từ những hiện tượng trên, anh/chị hãy viết một bài văn (tối đa 800 từ)
về chủ đề: “Tiến bộ xã hội và ước mơ đại gia của cô gái trẻ”.
Sau khi đề văn được tung lên mạng, dư luận tỏ ra bức xúc vì
hai “hot girl” nhiều tai tiếng hiện nay được đưa vào đề thi. Nhiều người cho
rằng, những phát ngôn về triết lý sống thiếu chuẩn mực như vậy không nên trích
dẫn vào đề thi, hơn nữa đề sa vào cổ súy cho trào lưu xấu trong giới trẻ, làm
tiếng tăm của các nhân vật được dẫn chứng càng nổi hơn… Cũng có những ý kiến
cho rằng đây là bước đột phá so với những đề văn chuyên chú trọng vào các bậc
thánh hiền. Với cách ra đề mới mẻ, thời sự, gợi mở suy nghĩ như vậy, sẽ góp
phần hình thành thế giới quan của các em qua thực tiễn cuộc sống. Và cũng qua
đó, cho các em thấy rằng, việc nắm bắt thông tin xã hội cập nhật hằng ngày là
quan trọng.
Về hai cô gái đang nổi đình nổi đám được đưa vào đề thi, về
cách ra đề thì có thể coi là bước đột phá. Những đề tài “thánh hiền” không còn
phù hợp, những đề tài “nóng”, hiện thực xã hội nên đưa vào đề để giúp các em
kịp thời nắm bắt quan điểm về xã hội hiện đại. Tuy nhiên, hình ảnh không đẹp và
những phát ngôn thực dụng của hai cô được đưa vào e còn điều chưa ổn. Không
thiếu những hành động đẹp của thanh niên kiểu như em Nguyễn Văn Nam để chúng ta
đưa vào đề cũng với mục đích tốt hơn. Nghị luận những vấn đề kiểu như các cô
gái trẻ với đại gia có vẻ nhạy cảm quá. Hơn nữa liên quan đến vấn đề đạo đức,
lối sống của giới trẻ, e là hơi quá sức các em. Nên giành thêm một phần trong
sách giáo khoa để phổ biến về đề tài này trước khi đưa vào đề thi. Đồng thời
tham khảo thêm ý kiến của các nhà nghiên cứu tâm lý học và xã hội học.
Cải cách, đổi mới phương pháp đi đôi với “nội dung”, không
thể cái cách phương pháp mà nội dung cũ hoặc không phù hợp. Vì vậy, việc chú
trọng đến sự đổi mới của phương pháp cũng như nội dung một cách đồng đều, hợp
lý là vấn đề mà ngành giáo dục cần quan tâm hơn nữa./.
Thân Nguyễn Luận,
06, thôn 3, Hòa Thành, Krông Bông,
Đăk Lăk
ĐT: 0976.638.392
THÂN NGUYỄN LUẬN: TỨ ĐẠI MỸ NHÂN SÀI GÒN XƯA
“TỨ ĐẠI MỸ NHÂN” SÀI GÒN XƯA
Trung Quốc xưa có
“tứ đại mỹ nhân” cực kỳ nổi tiếng gồm: Tây Thi, Vương Chiêu Quân, Điêu Thuyền,
Dương Quý Phi. Nói đến bốn người này thì có thể ai cũng biết, tiếng tăm và hình
ảnh của họ đã đi vào sử sách cũng như phim ảnh, văn hóa Trung Hoa. Thậm chí họ
được xem là “biểu tượng của cái đẹp”, có
giá trị mỹ học. Ở Việt Nam
ta, tôi chưa nghe tiền nhân nói đến một mỹ nhân nào như Trung Quốc. May mắn
lắm, tôi nghe chuyện “Tứ đại mỹ nhân” của Sài Gòn, giai đoạn những năm cuối thế
kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Qua tiền nhân và một số tài liệu tham khảo, tôi xin trao
đổi thêm về các mỹ nhân này.
Theo tác giả
Thượng Hồng và nhiều tài liệu khác, người đầu tiên trong 4 mỹ nhân phải kể đến
là “Cô Ba”. Cái tên nghe nôm na gần gũi với người xứ Nam bộ. Cô này được mọi người tán
tụng là:
"Hoa Khôi Mọi Thời Đại". Về
thân thế, tiểu sử thì chẳng thấy sách sử nào ghi lại cả. Chỉ biết cô là con gái thứ của một viên quan nhỏ
người Việt, giúp việc cho chính quyền bảo hộ, được gọi là thầy Thông Chánh, cô
được xem là
người đoạt danh hiệu Hoa hậu người Việt đầu tiên, có vẻ đẹp đặc trưng của phụ
nữ Việt. Chính vẻ đẹp ấy đã đưa chân dung cô in lên bao bì của hãng xà bông của
nhà tư sản Trương Văn Bền. Xà bông Cô ba nổi tiếng một thời, nhưng ít ai biết
cô Ba là ai và ở đâu.

Xà bông Cô Ba
Người thứ hai trong bốn người đẹp Sài Gòn xưa là cô Ba Trà.
Cô này có tên thật là Trần Ngọc Trà, nổi tiếng vào khoảng những năm 1923 đến năm 1935. Hầu hết dân chợ Sài
Gòn đều nghe danh biết mặt cô Ba Trà. Danh xưng cô Ba Trà hầu như nằm lòng các
vương tôn công tử thời đó, mà điển hình nhất là các chàng công tử Bạc Liêu, Mỹ
Tho (Hắc Công Tử, Bạch Công Tử). Ngoài ra, những người đeo bám theo sau cô Ba
Trà còn có các quan chức Pháp, các quan chức người Việt nhiều tiền và thế lực. Nói
về sắc đẹp của cô Ba Trà, một tờ báo thời ấy mô tả: "Mỗi cái nheo mắt của
cô Ba, thì hầu như tay chơi nào cũng tay chân rụng rời, mỗi khi cô cười thì y
như rằng rượu rót tràn, tiền tuôn ra... Người ta đã không tiếc tiền của, kể cả
nhà cửa, ruộng vườn và cả sinh mệnh mình nữa, để chỉ được kề cận người đẹp,
nhìn người đẹp nheo mắt, nuốt lấy nụ cười như hoa nở của nàng..." .

Cô
Ba Trà
Người thứ ba được ca tụng là Cô Tư
Nhị ,
cô này sống cùng thời với cô Ba Trà. Nếu cô Ba Trà nổi tiếng trong giới
vương tôn công tử, thì cô Tư Nhị lại nổi tiếng hơn trong giới văn nhân, nghệ
sĩ. Cô xuất thân "trường Đầm" có bằng diplome, và khi ra đời đã được
các nhân vật có tầm cở trong giới báo chí thuở ấy săn đón và mời mọc tập tành
viết báo. Tuy cô viết báo không giỏi, nhưng cũng được kể như là người
"biết viết lách", nên rất được nể nang, mời mọc hết tiệc này đến lễ
lạc nọ. Cô Tư Nhị nhờ quen biết nhiều văn nhân, chính trị gia, nên được họ đưa
lên vị trí đặc biệt hơn cô Ba Trà.

Cô
Tư Nhị
Sau cô Ba Trà, cô Tư Nhị vài năm, thì cô Sáu Hương nổi lên.
Cô này được dân phong lưu thời đó tả lại:"Đẹp như Tây Thi! Cô có nước da
trắng ngần, đôi mắt lá liễu sáng ngời, bờ môi mọng lúc nào cũng ươn ướt và luôn
mỉm cười...". Sáu Hương cũng là người có học, xuất thân trường áo tím
(trường Nguyễn Thị Minh Khai ngày nay) và có thời được tôn là "Hoa Khôi
trường Áo Tím". Những triệu phú đều say mê, đeo bám như đỉa xung quanh cô,
họ thi nhau cung phụng cho người đẹp không thiếu một thứ gì, từ nhà lầu xe hơi
cho đến những trương mục trong ngân hàng. Người ta đồn rằng, trong số những mỹ
nhơn thời đó, chỉ có Sáu Hương là giàu nhất! Tuy vậy, cô chỉ vang danh khoảng
10 năm, rồi sau rút vào im lặng... Chừng như biết dừng lại đúng lúc, trước khi
nhan sắc phai tàn.
Tất cả đã rơi vào quá khứ, cái tồn tại là
danh tiếng của các cô. Không ai biết rõ lai lịch và kết quả của từng người,
nhưng ít ra họ thừa nhận sắc đẹp của các cô. Có thể có người biết rõ về các cô,
nhưng do vô tình hay cố ý gì đó mà chuyện của các cô được giai thoại hóa, thêu
dệt thêm những nét mang tính nhân văn hơn. Chúng ta phải tự hào vì người phụ nữ
Việt Nam
bao giờ cũng có những người phụ nữ đẹp, thuần Việt và đặc trưng. Trong bối cảnh
lịch sử loạn lạc thời ấy, sắc đẹp của phụ nữ Việt vẫn tỏa ngát, văn hóa Việt
vẫn tồn tại. Chính điều đó làm nên một Việt Nam giàu đẹp như ngày nay chăng?
Thân Nguyễn Luận, số 06, thôn 3, Hòa Thành, Krông Bông, Đăk Lăk.
ĐT: 0976638392
BÀ TRƯNG GỬI HẬU SINH
Năm ta hai mươi tuổi, lớn lên trong nhà lạc tướng, đang
độ tuổi thanh xuân, có thể hưởng thú vui của nhà quyền quý. Nhưng đất nước lâm nguy,
giặc Hán xâm phạm, nay mai xã tắc sao vững bền được. Lúc đó cái vui nhỏ của
từng người cũng đâu còn khi nước mất nhà tan? Thế nên dù là phận nhi nữ, ta cùng
em gái Trưng Nhị cũng phải tập võ, cưỡi voi, tung hoành cùng nam nhi khắp chốn
để bảo vệ nước nhà. Dù không trọn vẹn, ta cũng tự hào vì đã đem tất cả ra để
giữ gìn non sông. Vì vậy chị em ta vinh dự được nhân dân nước Việt suy tôn là “Hai
Bà Trưng”, cốt xem ta như một vị công thần, có nhiều công lao trong xây dựng và
bảo vệ tổ quốc.
Nghe nói hiện nay có một cô gái cũng được nhiều người “phong
thánh”, tên là “Bà Tưng” thì phải. Sở dĩ ta phải lên tiếng vì người này có cái
tên na ná gần giống ta, sợ hậu thế nhầm lẫn nên cần thanh minh, phân biệt. Mới
nghe có thêm “vị thánh” mới, ta cũng mừng vì tưởng có thêm người cống hiến lớn
cho đất nước, ấy nhưng ta sớm thất vọng.
Không chút công lao, chưa bao giờ cống hiến, cũng
chẳng quan tâm đến vận mệnh đất nước, chỉ chăm chút thân thể rồi xòe ra cho
thiên hạ nhìn. Nghe đâu cô gái này cổ súy phong trào “thả rông” bầu ngực? Chắc
cô này muốn theo tín ngưỡng “phồn thực”. Ta còn nghe cô ta “bu” vào các sự kiện
văn hóa và lê mặt dày “mò” đến các buổi tiệc của những người nổi tiếng dù không
được mời… Điều đáng nói là tự nhiên cô gái này lại được cư dân mạng và cánh báo
chí “tung hô” và tự nhiên tiếng tăm cô như một nhân vật thánh thần, dù cô nổi lên
theo kiểu kỳ quái, phản văn hóa. Cô ta bước ra từ thế giới ảo, tiếng tăm hình
thành từ bong bóng xà phòng, ta nghĩ chỉ vài ba hôm là vỡ thôi.
Theo ta thấy có lẽ chỉ vì cô ta rửng mở, máu nóng,
thừa hồng cầu mới nên từ bỏ danh dự, nhân phẩm để đổi lấy sự nổi tiếng. Phải
chi tuổi ấy, ai cũng ham học, giỏi làm, sợ chi không có ngày thành đạt?
Cũng may cho ta, tên cô ta là “Tưng”, chứ nếu tên “Trưng”
giống ta thì uế cho ta quá. Nên tất cả mọi người hãy cảnh giác, đừng nhầm lẫn
“Bà Trưng” với “Bà Tưng” mà tội cho ta lắm!

“Bà
Tưng” (Lê Thị Huyền Anh)


Hai
Bà Trưng đánh trận
Thân Nguyễn Luận
BÀ TRƯNG GỬI HẬU SINH
BÀ TRƯNG GỬI HẬU SINH
Năm ta hai mươi tuổi, lớn lên trong nhà lạc tướng, đang
độ tuổi thanh xuân, có thể hưởng thú vui của nhà quyền quý. Nhưng đất nước lâm nguy,
giặc Hán xâm phạm, nay mai xã tắc sao vững bền được. Lúc đó cái vui nhỏ của
từng người cũng đâu còn khi nước mất nhà tan? Thế nên dù là phận nhi nữ, ta cùng
em gái Trưng Nhị cũng phải tập võ, cưỡi voi, tung hoành cùng nam nhi khắp chốn
để bảo vệ nước nhà. Dù không trọn vẹn, ta cũng tự hào vì đã đem tất cả ra để
giữ gìn non sông. Vì vậy chị em ta vinh dự được nhân dân nước Việt suy tôn là “Hai
Bà Trưng”, cốt xem ta như một vị công thần, có nhiều công lao trong xây dựng và
bảo vệ tổ quốc.
Nghe nói hiện nay có một cô gái cũng được nhiều người “phong
thánh”, tên là “Bà Tưng” thì phải. Sở dĩ ta phải lên tiếng vì người này có cái
tên na ná gần giống ta, sợ hậu thế nhầm lẫn nên cần thanh minh, phân biệt. Mới
nghe có thêm “vị thánh” mới, ta cũng mừng vì tưởng có thêm người cống hiến lớn
cho đất nước, ấy nhưng ta sớm thất vọng.
Không chút công lao, chưa bao giờ cống hiến, cũng
chẳng quan tâm đến vận mệnh đất nước, chỉ chăm chút thân thể rồi xòe ra cho
thiên hạ nhìn. Nghe đâu cô gái này cổ súy phong trào “thả rông” bầu ngực? Chắc
cô này muốn theo tín ngưỡng “phồn thực”. Ta còn nghe cô ta “bu” vào các sự kiện
văn hóa và lê mặt dày “mò” đến các buổi tiệc của những người nổi tiếng dù không
được mời… Điều đáng nói là tự nhiên cô gái này lại được cư dân mạng và cánh báo
chí “tung hô” và tự nhiên tiếng tăm cô như một nhân vật thánh thần, dù cô nổi lên
theo kiểu kỳ quái, phản văn hóa. Cô ta bước ra từ thế giới ảo, tiếng tăm hình
thành từ bong bóng xà phòng, ta nghĩ chỉ vài ba hôm là vỡ thôi.
Theo ta thấy có lẽ chỉ vì cô ta rửng mở, máu nóng,
thừa hồng cầu mới nên từ bỏ danh dự, nhân phẩm để đổi lấy sự nổi tiếng. Phải
chi tuổi ấy, ai cũng ham học, giỏi làm, sợ chi không có ngày thành đạt?
Cũng may cho ta, tên cô ta là “Tưng”, chứ nếu tên “Trưng”
giống ta thì uế cho ta quá. Nên tất cả mọi người hãy cảnh giác, đừng nhầm lẫn
“Bà Trưng” với “Bà Tưng” mà tội cho ta lắm!

“Bà
Tưng” (Lê Thị Huyền Anh)


Hai
Bà Trưng đánh trận
Thân Nguyễn Luận
KỂ CHUYỆN BẰNG DANH NGÔN, TỤC NGỮ VỀ PHỤ NỮ
CHUYỆN KỂ BẰNG TỤC NGỮ, DANH NGÔN VỀ PHỤ NỮ
THẰNG ÚT HỎI VỢ
Thằng Út từ Sài Gòn về thông báo với
gia đình việc nó đã có bạn gái và tính chuyện lập gia đình trong nay mai. Nó tổ
chức bữa cơm mời tôi về dự cơm và bàn bạc. Biết tôi hay bi boa về phụ nữ chừng
như am tường lắm nên nó tham vấn nhiều vấn đề về phụ nữ. Nó bảo để trang bị
chút kinh nghiệm cho cuộc sống. Bằng kinh nghiệm bao nhiêu năm, và với những
hiểu biết của mình, tôi vỗ ngực như “dạy đời” thằng Út trước giờ cơm. Dõng dạc
như một nhà “phụ nữ học”, tôi bảo Út: “lấy vợ xem tông”(tục ngữ) nghe mày,
không ẩu được đâu đấy.
Anh yên tâm, em sợ nhất là chuyện bếp
núc, bởi em không nấu ăn được.
Xem việc
trong bếp biết nết đàn bà” (tục ngữ),
vì thế chú mày nên cho cô ấy học nữ công gia chánh đi là vừa.
Theo anh, làm sao biết được
lòng dạ đàn bà?
Lòng người đàn bà là một biển thẳm, mà đáy biển còn có thể dò được,
nhưng lòng dạ đàn bà thì không (Riccoboni). Mãi mãi anh em chúng ta không thể biết đâu.
Làm sao biết được sự chung
thủy của cô ấy hả anh?
“Gió thay đổi mỗi ngày, đàn bà thay đổi mỗi giây” (tục ngữ Tây Ban Nha).
Đàn bà thường hay giữ lâu anh tình nhân đầu tiên, khi nàng chưa tìm được anh
tình nhân thứ hai. (La Rochefoucauld). Chú
mày phải chăm cô ấy hàng ngày để giữ tình yêu luôn mặn nồng.
Lỡ cô ấy quá đáng, em có nên bạt tai không?
Nếu đánh vợ
thì người đời cho là vũ phu. Còn không trừng trị người đàn bà thì bị người đời
cho là sợ vợ (Scott Fitgérald). Chỉ
có cách lựa lời mà sống với nhau cho thuận hòa chú ơi!
Đàn bà sợ gì nhất anh?
Đàn bà thường vướng vào mình năm cái sợ: sợ già, sợ xấu, sợ nghèo, sợ
bị bỏ rơi, sợ chết (Montesquieu) . Vì
vậy, lợi dụng những điều ấy mà dọa, chắc cũng có đôi phần lợi thế.
Nên khen cô ấy để cô ấy vui không anh?
Khen đàn bà thì cứ tha hồ nói dối, họ sẽ tin hết mình. (danh ngôn Pháp)
, nhưng khen tặng người đàn bà khác trước mặt cô ấy là một sự sỉ nhục không thể tha thứ được. (De Stael)
. Vì vậy chú phải cẩn thận.
Vũ khí lợi hại nhất của họ là
gì anh?
Đó là nước mắt. Khí giới của đàn bà là những giọt nước mắt. (Shakespeare).
Nhưng chú cũng nên đề phòng vì nước
mắt đàn bà che giấu nhiều cạm bẫy (Denys Caton) .
Làm sao để có được sự tha thứ của họ khi mình có lỗi?
Đàn
bà chỉ tha thứ sau khi trừng phạt xong ( De Girardin). Vì vậy hãy bình tĩnh đón nhận hình phạt khi có lỗi chú à!
Đàn
bà nổi điên khi nào?
Trong đời
người đàn bà chỉ có hai lần làm cho họ điên lên, đó là khi họ bắt đầu yêu và
khi họ bạc tóc (danh ngôn Ba Lan) .
Lỗi lầm lớn nhất của đàn bà?
Cái lỗi lầm lớn của người đàn bà là luôn luôn tìm cách kết bạn với
người đàn ông họ yêu, thay vì kiếm một người đàn ông yêu họ (La Bruyere).
Làm sao quyến rũ và chinh phục được đàn bà?
Người ta có thể quyến rũ người đàn bà bằng sự dối trá, nhưng người ta
chỉ có thể chinh phục được họ với tấm lòng thành thật (Krassovsky).
Làm sao để họ bớt lảm nhảm?
Đối với đàn bà, im lặng là đồ trang sức đẹp nhất (Jean Jacques Rousseau), nhưng họ chẳng bao giờ chịu
im lặng cả. Chim họa mi có thể quên hót,
chứ đàn bà không thể quên nóị (tục ngữ Tây Ban Nha).
Họ sẽ khóc khi nào?
Người phụ nữ cười khi có thể cười nhưng muốn khóc thì lúc nào cũng được
(ngạn ngữ Pháp).
Làm sao biết họ là người phụ nữ tốt?
Người phụ nữ
tốt được biết qua cái mà cô ta làm, người đàn ông tốt được biết qua cái mà anh
ta không làm ( H.Roulend).
Họ thường nói về những điều gì nhất?
Đàn ông nói
điều mình biết, phụ nữ nói điều mình thích (J.J. Rousseau). Mà chú biết rồi đấy, thời trang và mỹ phẩm, những “hot
boy” chính là những điều họ thường thích!
Anh am hiểu về đàn bà thế, chắc chuyện trong gia đình
anh êm ấm hạnh phúc lắm nhỉ?
Không chú à, biết vậy mà chuyện trong nhà thiên biến
vạn hóa, không biết đâu mà lường. Ai có
thể cai trị được một người đàn bà thì người ấy có thể cai trị được một nước
(Honoré De Balzac), mà chú biết đấy, ra
ngoài trăm trận trăm thắng, về nhà không thắng nổi người đàn bà (Napoleon).
Thế sao hôm nay chị không về cùng anh?
À ừ! … Thì tại sáng nay, anh chuẩn bị xong, chờ cả
tiếng đồng hồ mà chị vẫn chưa xong, cãi nhau một tăng rồi anh về một mình đấy.
Ôi xời, tưởng sự am hiểu phụ nữ có thể hóa giải những
cuộc cãi vã chứ. Đúng như anh nói, phụ nữ thật khó hiểu!
Đúng vậy, thế hệ chúng ta vẫn phải “nghiên cứu” phụ
nữ. Thế hệ sau này cũng vậy chú à.
Cuộc tranh luận của anh em tôi đang hồi kết thúc thì
mẹ cũng vừa dọn cơm xong. Mẹ gọi:
Mấy đứa ăn cơm thôi bây!
Ngồi vô bàn cơm, chưa kịp cầm chén, mẹ cũng tham gia
câu chuyện của tôi và thằng Út. Mẹ bảo:
Mẹ cũng nên chuẩn bị chu đáo vì dâu vô nhà, mụ già ra ngõ. Còn thằng Út lo mà dạy vợ từ lúc bơ vơ mới về. Người ta vẫn nói dâu dữ mất họ, chó dữ mất láng giềng. Mà thôi, còn tùy bởi có phúc lấy được dâu hiền, vô phúc lấy phải
dâu dại. Thật ra con gái là con của người ta, con dâu mới thật mẹ cha mua về. Có
thế nào đi chăng nữa, dâu dâu rể rể cũng
kể là con, con dâu cũng là con trong nhà. Bậc làm cha mẹ, không ai bỏ con
cái đâu các con à.
Lâu lắm anh em tôi mới lại nghe mẹ dạy
bảo. Tôi tịt, không dám khua môi chuyện phụ nữ trước mặt mẹ nữa.

ảnh minh họa: Mẹ và con
Thân Nguyễn Luận,
06, thôn 3, Hòa Thành,
Krông Bông, Đăk Lăk
ĐT: 0976.638.392
NỮ SĨ ANH THƠ, NGƯỜI EM ÚT CỦA THƠ MỚI
NỮ SĨ ANH THƠ – CÀNH CỌ VÀNG TRONG THI
CA
1. Người em út trong thơ mới:
Vào những mùa cuối của phong trào thơ mới, nữ sĩ Anh
Thơ kịp khẳng định mình như một nét bút bình dị nhưng không kém phần mới mẻ
trong thi pháp. Chính bà đã thêm những nét vẽ mới để tạo nên bức tranh “Thơ
Mới” mà trước đó những Nguyễn Bính, Bàng Bá Lân, Đoàn Văn Cừ…còn chưa vẽ được
hoặc chỉ là nét dở dang.
Nói nữ sĩ là người em út trong thơ mới, không chỉ về
phương diện tuổi đời (sinh năm 1921), mà cả về sự mới mẻ trong nội dung và thi pháp.
Thơ bà là những nét bình dị nhất, đời thường nhất, gần gũi nhất nhưng được thể
hiện trong lối thơ phá cách, nhịp 3/2/3 hoặc 2/3/3, 3/3/2 chứ không ăn nhịp 2/2
truyền thống: “Ngoài đê thẳm, không người
đi vắng vẻ/Lũ chuồn chuồn giỡn nắng đuổi nhau bay/ Nhưng thỉnh thoảng tiếng
nhạc đồng buồn tẻ/ Của vài người cưỡi ngựa dến xua ngay” (Trưa hè). Có thể
nói sự xuất hiện của Anh Thơ làm sáng lên “mảng đồng quê” mà trước đó một mình
Nguyễn Bính không đủ sức mạnh tô điểm.
Thơ mới là một điệu sầu mênh mông, và nếu đem phân chất,
ta sẽ thấy trong đó ba mối sầu đậm nhất: Sầu nhân thế, sầu thời thế và sầu thân
thế. Ba mối sầu này đan quyện, chuyển hóa sang nhau cất lên mà thành thơ mới
(Chu Văn Sơn). Nếu Thế Lữ nghiêng về mối sầu thứ ba, Chế Lan Viên nặng về mối
sầu thứ hai, Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu luôn đau đáu với mối sầu thứ nhất thì Anh
Thơ lại kịp thoát ra khỏi những mối sầu ấy để tìm một góc trời riêng, nơi mà suốt ba mươi ngày,
ba mươi bài thơ – đẹp như tranh vẽ đã ra đời. Chính những tên tuổi gạo cội của
Tự Lực Văn Đoàn đã không ngần ngại trao cho tập thơ của của nữ sĩ khi bà chưa
tròn hai mươi tuổi. Nói vậy không phải
Anh Thơ không buồn, mà nỗi buồn của nữ sĩ tan vào từng lời thơ. Bên cạnh đó, bà
tỏ ra bất lực trước thực tại, chìm vào những giá trị cổ truyền hơn tìm lý tưởng
trong cuộc sống mới: “Mây đi vắng trời
xanh buồn rộng rãi/ Sông im dòng đọng nắng đứng không trôi” (Bến đò trưa
hè).
2.
Nữ sĩ – Họa sĩ,
nhiếp ảnh gia tài hoa:
Trong buổi khánh tận của thơ cũ, Tản Đà trở thành “dấu
gạch nối” của hai thời đại. Rồi chính Tản Đà bị đánh bật bởi Phan Khôi và hàng
loạt người kế cận. Trong bối cảnh ấy, Anh Thơ xứng đáng được xem là nhát dao
kết liễu cho hệ ý thức cũ. Có thể thân xác bị giam cầm, nhưng tâm hồn đủ sức
thoát khỏi bốn bức tường tù hãm. Nữ sĩ kể trong Hồi kí Từ bến sống Thương, NXB Văn học, 1986: “Năm ấy (1939) Tự Lực Văn Đoàn đang có kỳ thi văn thơ. Khi tờ báo đăng
thể lệ cuộc thi đến tay tôi, hạn noopk bài chỉ còn một tháng, làm sao tôi kịp
làm thơ để dự thi….Bố tôi nói: Con gái làm thơ lắm chỉ hư thân! Tao mà vớ được
lần nữa tao từ…”. Vậy mà trong ba mươi ngày, tập “Bức tranh quê” kịp hoàn
thành, mỗi bài thơ trở thành một nét vẽ của “Bức tranh quê”.
Chưa tròn hai mươi tuổi, tâm hồn Anh Thơ như trang
giấy trắng, chưa kịp nhiễm muối mặn cuộc đời, nên đề tài của nhà thơ gói gọn
trong xóm làng. Nhưng không vì thế mà thơ thiếu đi cảm xúc và cảnh vật. Anh Thơ
thú nhận trong Hồi kí: “Nhưng tôi sẽ tả gì trong thơ đây? Thơ tình
yêu say mê như Xuân Diệu? Nhưng tôi đã biết yêu đâu. Như Chế lan Viên mơ nhớ xứ
Chàm, nhưng có biết xứ Chàm ở đâu? Thơ Bạch Nga mười hai châu như Mai Hương và
Nguyễn Vĩ? Cũng chịu. Vậy thì viết gì? Tôi lại làm thơ về phong cảnh xóm làng
vậy. Xưa nay tôi chỉ biết xóm làng”. Ấy nhờ vậy mà thôn quê lại hiện rõ lên
trong thơ bà. Đó là những cơn mưa chiều xuân:
“Ngoài đường
đê cỏ non tràn biếc cỏ,
Đàn sáo đen
xà xuống mổ vu vơ” (Chiều Xuân)
Đôi khi là cái oi ả của trưa hè:
“Trong thôn
vắng, tiếng gà xao xác gáy.
Các bà già
đưa võng, hát thiu thiu…” (Trưa hè)
Và có khi là cái vắng vẻ của bến đò ngày mưa:
“Tre rũ rượi
ven bờ chen ướt át.
Chuối bơ phờ
đầu bến đứng dầm mưa” (Bến đò ngày
mưa)
Cũng âm thầm nỗi buồn vắng khi nhà thơ tả cảnh chợ
chiều:
“Im lặng quá!
Trên đường quanh các quán
Luc mục đồng
lững thững cưỡi trâu qua.
Con chó lạc
âm thầm đưa bước nản
Mặc gió chiều
quét lá dưới cây đa” (Chợ chiều).
Nói Anh Thơ là một họa sĩ cũng không sai, mỗi bài thơ
là một bức tranh về xóm làng, với những chi tiết rõ như vẽ. Đặc biệt, bức tranh
của bà cũng im ắng, đọng lại chứ không miêu tả sự ồn ào, sống động. Nếu Nguyễn
Bính, Bàng Bá Lân, Đoàn Văn Cừ đem “cái tình cũ” – cái truyền thống đến với thơ
mới, thì Anh Thơ lại đem được cả “thế giới cảnh vật truyền thống” để góp cho
thơ mới. Chỉ trong thơ Anh Thơ, mới tìm được cái “lưỡi chó” thè thở trong trưa
hè, và “trâu bò” mải miết gặm cỏ, hay “những đứa trẻ” bắt chấy…Bên cạnh những
“bức tranh” hết sức đời thường của nhà thơ – họa sĩ ấy, ta còn thấy một nhà thơ
– nhà nhiếp ảnh. Bởi thơ bà còn lưu giữ được những khoảnh khắc đời thường hết
sức độc đáo. “Có kẻ cho Anh Thơ là người
vô tình. Nhưng có thiếu nữ nào hai mươi tuổi mà lại vô tình? (Hoài Thanh –
Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam ).
Cái tình trong thơ Anh Thơ nảy lên từ cảnh, tưởng như bất ngờ, nhưng vì quá
quen thuộc nên không gây ngỡ ngàng. Ấy là “cô nàng yếm thắm” đang cuốc cào cỏ
ruộng (Chiều Xuân), ấy là “dăm ba người về chợ ghé vào qua” (Bến đò trưa hè),
ấy là “một ông lão ăn mày dò dẫm lối” (Chợ chiều), ấy là “Cô lái nhỏ” mơ mộng
trên thuyền giữa đêm trăng (Bến đò đêm trăng).
3.
Đôi cánh bồ
câu yêu hòa bình
Mọi thứ như vô tình rơi vào thơ nữ sĩ vậy, hết sức tự
nhiên và hài hòa, im ắng. Nhiều người đánh giá thơ bà quá “hiền lành”. Hầu như
ít nhắc đến con người, ít có những tứ thơ dữ dội, sự mạnh mẽ và biến động. Cũng
dễ hiểu với một tiểu thư sinh ra đã yên hưởng trong mạch đập an bình của cuộc
sống như Anh Thơ. Không dễ để đạt giải trong một cuộc thi có uy tín do Tự Lực
Văn Đoàn tổ chức, trao giải, dù là giải khuyến khích. Vũ Quần Phương nhận xét: “Điều đáng quý ở Anh Thơ là chị đi tìm cảm
hứng ngay từ những khung cảnh bình thường quanh chị. Chị không mĩ lệ hóa nhưng
vẫn tìm được cái đẹp trong sự bình dị….”
Khát vọng trong thơ Anh Thơ hết sức đơn giản nhưng
không phải không tinh tế. Nhà thơ luôn hướng đến cái ấm áp yên bình. Và mỗi lời
thơ như một đôi cánh bay về nơi chứa chan hòa bình, yên lành. Chính khát khao
ấy đã tạo nên một mảng rất riêng của Anh Thơ trong mớ hỗn độn của thơ mới, thời
kỳ mà có bao dòng văn học lẫn lộn, cùng phát triển.
Có một thời, Anh Thơ và Nguyễn Bính là “Thôn Đoài –
Thôn Đông” của nhau. Có lẽ sự gần gũi về tư tưởng cũng như đề tài kéo họ gần
nhau hay sự đa tình của Nguyễn Bính?
Tương hỗ rồi tương phản, có lẽ họ hiểu nhau quá nên
chẳng thể bổ sung nhau nên tình yêu ấy không kịp đơm hoa chăng?
Nữ sĩ
Anh Thơ
Thân Nguyễn
Luận
06, thôn 3,
Hòa Thành, Krông Bông, Đăk Lăk
ĐT: 0976.
638.392
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
