Chủ Nhật, 3 tháng 11, 2013

NỮ SĨ ANH THƠ, NGƯỜI EM ÚT CỦA THƠ MỚI


NỮ SĨ ANH THƠ – CÀNH CỌ VÀNG TRONG THI CA
                                                                                                                
1.    Người em út trong thơ mới:
Vào những mùa cuối của phong trào thơ mới, nữ sĩ Anh Thơ kịp khẳng định mình như một nét bút bình dị nhưng không kém phần mới mẻ trong thi pháp. Chính bà đã thêm những nét vẽ mới để tạo nên bức tranh “Thơ Mới” mà trước đó những Nguyễn Bính, Bàng Bá Lân, Đoàn Văn Cừ…còn chưa vẽ được hoặc chỉ là nét dở dang.
Nói nữ sĩ là người em út trong thơ mới, không chỉ về phương diện tuổi đời (sinh năm 1921), mà cả về sự mới mẻ trong nội dung và thi pháp. Thơ bà là những nét bình dị nhất, đời thường nhất, gần gũi nhất nhưng được thể hiện trong lối thơ phá cách, nhịp 3/2/3 hoặc 2/3/3, 3/3/2 chứ không ăn nhịp 2/2 truyền thống: “Ngoài đê thẳm, không người đi vắng vẻ/Lũ chuồn chuồn giỡn nắng đuổi nhau bay/ Nhưng thỉnh thoảng tiếng nhạc đồng buồn tẻ/ Của vài người cưỡi ngựa dến xua ngay” (Trưa hè). Có thể nói sự xuất hiện của Anh Thơ làm sáng lên “mảng đồng quê” mà trước đó một mình Nguyễn Bính không đủ sức mạnh tô điểm.
Thơ mới là một điệu sầu mênh mông, và nếu đem phân chất, ta sẽ thấy trong đó ba mối sầu đậm nhất: Sầu nhân thế, sầu thời thế và sầu thân thế. Ba mối sầu này đan quyện, chuyển hóa sang nhau cất lên mà thành thơ mới (Chu Văn Sơn). Nếu Thế Lữ nghiêng về mối sầu thứ ba, Chế Lan Viên nặng về mối sầu thứ hai, Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu luôn đau đáu với mối sầu thứ nhất thì Anh Thơ lại kịp thoát ra khỏi những mối sầu ấy để tìm  một góc trời riêng, nơi mà suốt ba mươi ngày, ba mươi bài thơ – đẹp như tranh vẽ đã ra đời. Chính những tên tuổi gạo cội của Tự Lực Văn Đoàn đã không ngần ngại trao cho tập thơ của của nữ sĩ khi bà chưa tròn hai mươi tuổi.  Nói vậy không phải Anh Thơ không buồn, mà nỗi buồn của nữ sĩ tan vào từng lời thơ. Bên cạnh đó, bà tỏ ra bất lực trước thực tại, chìm vào những giá trị cổ truyền hơn tìm lý tưởng trong cuộc sống mới: “Mây đi vắng trời xanh buồn rộng rãi/ Sông im dòng đọng nắng đứng không trôi” (Bến đò trưa hè).
2.    Nữ sĩ – Họa sĩ, nhiếp ảnh gia tài hoa:
Trong buổi khánh tận của thơ cũ, Tản Đà trở thành “dấu gạch nối” của hai thời đại. Rồi chính Tản Đà bị đánh bật bởi Phan Khôi và hàng loạt người kế cận. Trong bối cảnh ấy, Anh Thơ xứng đáng được xem là nhát dao kết liễu cho hệ ý thức cũ. Có thể thân xác bị giam cầm, nhưng tâm hồn đủ sức thoát khỏi bốn bức tường tù hãm. Nữ sĩ kể trong Hồi kí Từ bến sống Thương, NXB Văn học, 1986: “Năm ấy (1939) Tự Lực Văn Đoàn đang có kỳ thi văn thơ. Khi tờ báo đăng thể lệ cuộc thi đến tay tôi, hạn noopk bài chỉ còn một tháng, làm sao tôi kịp làm thơ để dự thi….Bố tôi nói: Con gái làm thơ lắm chỉ hư thân! Tao mà vớ được lần nữa tao từ…”. Vậy mà trong ba mươi ngày, tập “Bức tranh quê” kịp hoàn thành, mỗi bài thơ trở thành một nét vẽ của “Bức tranh quê”.
Chưa tròn hai mươi tuổi, tâm hồn Anh Thơ như trang giấy trắng, chưa kịp nhiễm muối mặn cuộc đời, nên đề tài của nhà thơ gói gọn trong xóm làng. Nhưng không vì thế mà thơ thiếu đi cảm xúc và cảnh vật. Anh Thơ thú nhận trong Hồi kí:  “Nhưng tôi sẽ tả gì trong thơ đây? Thơ tình yêu say mê như Xuân Diệu? Nhưng tôi đã biết yêu đâu. Như Chế lan Viên mơ nhớ xứ Chàm, nhưng có biết xứ Chàm ở đâu? Thơ Bạch Nga mười hai châu như Mai Hương và Nguyễn Vĩ? Cũng chịu. Vậy thì viết gì? Tôi lại làm thơ về phong cảnh xóm làng vậy. Xưa nay tôi chỉ biết xóm làng”. Ấy nhờ vậy mà thôn quê lại hiện rõ lên trong thơ bà. Đó là những cơn mưa chiều xuân:
“Ngoài đường đê cỏ non tràn biếc cỏ,
Đàn sáo đen xà xuống mổ vu vơ” (Chiều Xuân)
Đôi khi là cái oi ả của trưa hè:
“Trong thôn vắng, tiếng gà xao xác gáy.
Các bà già đưa võng, hát thiu thiu…” (Trưa hè)
Và có khi là cái vắng vẻ của bến đò ngày mưa:
“Tre rũ rượi ven bờ chen ướt át.
Chuối bơ phờ đầu bến đứng dầm mưa” (Bến đò ngày mưa)
Cũng âm thầm nỗi buồn vắng khi nhà thơ tả cảnh chợ chiều:
“Im lặng quá! Trên đường quanh các quán
Luc mục đồng lững thững cưỡi trâu qua.
Con chó lạc âm thầm đưa bước nản
Mặc gió chiều quét lá dưới cây đa” (Chợ chiều).
Nói Anh Thơ là một họa sĩ cũng không sai, mỗi bài thơ là một bức tranh về xóm làng, với những chi tiết rõ như vẽ. Đặc biệt, bức tranh của bà cũng im ắng, đọng lại chứ không miêu tả sự ồn ào, sống động. Nếu Nguyễn Bính, Bàng Bá Lân, Đoàn Văn Cừ đem “cái tình cũ” – cái truyền thống đến với thơ mới, thì Anh Thơ lại đem được cả “thế giới cảnh vật truyền thống” để góp cho thơ mới. Chỉ trong thơ Anh Thơ, mới tìm được cái “lưỡi chó” thè thở trong trưa hè, và “trâu bò” mải miết gặm cỏ, hay “những đứa trẻ” bắt chấy…Bên cạnh những “bức tranh” hết sức đời thường của nhà thơ – họa sĩ ấy, ta còn thấy một nhà thơ – nhà nhiếp ảnh. Bởi thơ bà còn lưu giữ được những khoảnh khắc đời thường hết sức độc đáo. “Có kẻ cho Anh Thơ là người vô tình. Nhưng có thiếu nữ nào hai mươi tuổi mà lại vô tình? (Hoài Thanh – Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam). Cái tình trong thơ Anh Thơ nảy lên từ cảnh, tưởng như bất ngờ, nhưng vì quá quen thuộc nên không gây ngỡ ngàng. Ấy là “cô nàng yếm thắm” đang cuốc cào cỏ ruộng (Chiều Xuân), ấy là “dăm ba người về chợ ghé vào qua” (Bến đò trưa hè), ấy là “một ông lão ăn mày dò dẫm lối” (Chợ chiều), ấy là “Cô lái nhỏ” mơ mộng trên thuyền giữa đêm trăng (Bến đò đêm trăng).
3.    Đôi cánh bồ câu yêu hòa bình
Mọi thứ như vô tình rơi vào thơ nữ sĩ vậy, hết sức tự nhiên và hài hòa, im ắng. Nhiều người đánh giá thơ bà quá “hiền lành”. Hầu như ít nhắc đến con người, ít có những tứ thơ dữ dội, sự mạnh mẽ và biến động. Cũng dễ hiểu với một tiểu thư sinh ra đã yên hưởng trong mạch đập an bình của cuộc sống như Anh Thơ. Không dễ để đạt giải trong một cuộc thi có uy tín do Tự Lực Văn Đoàn tổ chức, trao giải, dù là giải khuyến khích. Vũ Quần Phương nhận xét: “Điều đáng quý ở Anh Thơ là chị đi tìm cảm hứng ngay từ những khung cảnh bình thường quanh chị. Chị không mĩ lệ hóa nhưng vẫn tìm được cái đẹp trong sự bình dị….”
Khát vọng trong thơ Anh Thơ hết sức đơn giản nhưng không phải không tinh tế. Nhà thơ luôn hướng đến cái ấm áp yên bình. Và mỗi lời thơ như một đôi cánh bay về nơi chứa chan hòa bình, yên lành. Chính khát khao ấy đã tạo nên một mảng rất riêng của Anh Thơ trong mớ hỗn độn của thơ mới, thời kỳ mà có bao dòng văn học lẫn lộn, cùng phát triển.
Có một thời, Anh Thơ và Nguyễn Bính là “Thôn Đoài – Thôn Đông” của nhau. Có lẽ sự gần gũi về tư tưởng cũng như đề tài kéo họ gần nhau hay sự đa tình của Nguyễn Bính?
Tương hỗ rồi tương phản, có lẽ họ hiểu nhau quá nên chẳng thể bổ sung nhau nên tình yêu ấy không kịp đơm hoa chăng?
 Nữ sĩ Anh Thơ
Thân Nguyễn Luận
06, thôn 3, Hòa Thành, Krông Bông, Đăk Lăk
ĐT: 0976. 638.392

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét